Logo Nguyễn Trân
Trang chủ / Hoạt động
THPT Nguyễn Trân: Kỷ cương - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển

TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO

Ngày đăng: 22-04-2020

Bài tuyên truyền về biển, đảo và thu hút nguồn nhân lực

xây dựng Quân chủng Hải quân

I. Đảo là nhà, biển cả là quê hương

         

          Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, với gần 3000 hòn đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn có đầy đủ căn cứ khoa học một cách vững chắc cả về lịch sử và pháp lý phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Nhà nước Việt Nam từ lâu đã chiếm hữu thật sự quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và liên tục thực hiện chủ quyền thực sự của mình đối với hai quần đảo này.    

          Thời vua Lê Thánh Tông đã cho vẽ bản đồ mang tên “Hồng Đức bản đồ”. Đến những năm đầu thế kỷ XVII một nho sinh tên là Đỗ Bá đã vẽ bản đồ này với tên gọi thân thương là Bãi Cát Vàng. Khi nói đến Hoàng Sa, Trường Sa chúng ta càng tự hào khi thấy bản đồ mà Phan Huy Chú đã vẽ năm 1834 (triều vua Minh Mạng) khẳng định rõ ràng Hoàng Sa, Trường Sa, Bãi Cát Vàng đó thuộc về Việt Nam.

          Năm 1776 khi Lê Quý Đôn được vào nhận chức ở Thuận Hóa cũng viết và kể lại rằng có những đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải mà Chúa Nguyễn đã cử ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để thu lượm những sản vật, những đội đó có những lễ khao lề thế lính mà giờ đây ở những làng ven biển vẫn tổ chức hàng năm vào tháng 3 Âm lịch. (Tháng 8/2011 phát hiện thêm một bài văn tế lính Hoàng Sa - Trường Sa ở ngay trong đất liền, tại thôn Gia Hòa, xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, không chỉ ở Lý Sơn mới tổ chức các nghi lễ về khao lề thế lính Hoàng Sa - Trường Sa mà ngay ở trong đất liền (các vùng ven biển) của tỉnh Quảng Ngãi cũng từng tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa - Trường Sa).  Ngày 28/4/2013, tại đình làng An Vĩnh, huyện Lý Sơn lễ đón nhận bằng “Di sản văn hóa phi vật thể lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” đã được tỉnh Quảng Ngãi long trọng tổ chức – Đây là việc làm có ý nghĩa to lớn, một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Gắn liền với cuộc sống của cư dân đảo ngoài những lễ nghi truyền thống còn có hơi thở của biển, của tiếng ốc u năm xưa mà cho đến bây giờ vẫn còn vang xa: “Ốc u đã thổi lên rồi, để cha đi giữ biển trời Hoàng Sa”

          Năm 1956, khi rút khỏi Đông Dương, Pháp đã chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho nhà cầm quyền Sài Gòn. Nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cử các đoàn khảo sát khoa học ra nghiên cứu, xây dựng các bia chủ quyền tại các đảo chính và có thêm nhiều hoạt động về khoa học kỹ thuật như: khảo sát xây dựng hải đăng, lập trạm vô tuyến, đặt trạm khí tượng thủy văn cung cấp số liệu quan trắc cảnh báo thời tiết cho khu vực và tổ chức Khí tượng thế giới - OMM. Năm 1961 Nha khí tượng đã có những quyết định cử những người có trách nhiệm ra đảo để làm nhiệm vụ. Những văn bản cứ tiếp nối như vậy để chúng ta thấy được rằng bằng chứng của chúng ta về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa rất rõ ràng, xác thực, sự quản lý đó có tính chất Nhà nước.

          Trải qua những biến thiên của lịch sử, năm 1975: Bộ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam vinh dự nhận nhiệm vụ hành quân, tiến công và ra tiếp quản các đảo, quần đảo. Ngày 14/4/1975 đảo Song Tử Tây được giải phóng, tiếp theo là các đảo Sơn Ca (25/4), Nam Yết (27/4) và đảo Trường Sa (28/4). Sáng ngày 29/4 thêm 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa được giải phóng.Các đơn vị hải quân đã sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

          Sau khi đất nước thống nhất, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo này. Trong đó, có Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã 3 lần công bố Sách trắng về 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

“Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta sẽ chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi dòng sông”

          Hai tiếng “Tổ Quốc” khi cất lên trong tim mỗi người thật thiêng liêng và mang một sức mạnh lạ thường. Lúc đất nước bị xâm lăng thì tinh thần ấy, sức mạnh ấy giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách và cả những hiểm nguy để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Cách đây 27 năm, lực lượng Hải quân của ta đã có một trận chiến oanh liệt để bảo vệ cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa trước âm mưu đánh chiếm cột cờ cắm mốc chủ quyền của Việt Nam từ phía Trung Quốc. Ngày 14/3/1988 đã trở thành một ngày đáng ghi nhớ trong lịch sử quân chủng Hải quân Việt Nam.Trong trận quyết chiến giữ vững chủ quyền biển đảo, 64 chiến sĩ Hải quân đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã mãi mãi nằm lại dưới lòng biển cả bao la, giữa trùng khơi của Tổ quốc! Những người lính Hải quân trẻ ngày ấy đã sống và chiến đấu quên mình để bảo vệ đảo, bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Tuổi xuân của các anh đã hiến dâng cho đất nước, tấm lòng ấy, tinh thần bất khuất ấy mãi là là tấm gương sáng cho những thế hệ trẻ noi theo. Biển bao la của quê hương đã từng nhuộm đỏ máu các anh sẽ cho các thế hệ Việt Nam sức mạnh để chiến đấu chống lại bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Để giữ được phần máu thịt thiêng liêng của Tổ Quốc, biết bao nhiêu người đã ngã xuống, biết bao người đã hy sinh. Triệu triệu người dân Việt sẵn sàng khi Tổ Quốc gọi và sẵn sàng hy sinh khi Tổ Quốc cần. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Sự hy sinh ấy đã trở thành bất tử.

          Không chỉ là các chiến sỹ Hải quân mà cả ngư dân, những con người lao động bình dị ấy cũng là những tấm gương sáng về tinh thần dân tộc. Họ đã dũng cảm vươn khơi bám biển, dù không có trong tay một thứ vũ khí tự vệ nhưng họ không hề run sợ trước những đội tàu lớn được trang bị hiện đại của những kẻ ngang ngược bạo tàn. Những con tàu đơn sơ, nhưng họ vẫn tiến thẳng ra khơi, bám trụ với ngư trường truyền thống cha ông để làm ăn và cũng để bảo vệ chủ quyền vùng biển thiêng liêng của Tổ Quốc. Một ngư dân trở về từ chiếc tàu cá bị tàu Trung Quốc đâm chìm, vẫn không chút sợ hãi, khẳng định một quyết tâm sắt đá: “Là ngư dân, chúng tôi quyết sẽ làm những chiến sĩ trên biển để bảo vệ chủ quyền. Riêng tôi sẵn sàng hy sinh khi Tổ Quốc cần để bảo vệ chủ quyền biển đảo”. Chúng ta tự hào bởi chúng ta là con dân đất Việt, một dân tộc có “một lòng nồng nàn yêu nước” mỗi khi đất nước gặp nguy nan tinh thần yêu nước đó lại “kết thành một làn sóng mạnh mẽ” không sức mạnh nào có thể khuất phục.

          Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, sự đấu tranh của chúng ta là đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, chúng ta luôn biết kiềm chế trước sự gây hấn của những kẻ bạo tàng, không để sa vào cạm bẫy. Đó là sách lược hết sức đúng đắn mà cha ông ta đã đúc kết hàng trăm năm. Hơn bất cứ Quốc gia nào trên thế giới, Việt Nam thấu hiểu nỗi đau của chiến tranh bởi những hậu quả tàn khốc của nó vì vậy phải tiến hành chiến tranh là điều mà chúng ta không hề muốn.Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay, chúng ta cũng thể hiện sự quyết tâm, khôn kéo, dũng cảm trước mọi hành vi gây hấn của kẻ bạo tàng. Những ngày qua, trái tim của triệu triệu người dân Việt Nam đều hướng về biển đảo của Tổ Quốc, các phong trào “Góp đá xây Trường Sa”,“Vì Trường Sa thân yêu”, “Nước ngọt cho Trường Sa”, “Vì học sinh Trường Sa thân yêu”, “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1”,“Cả nước vì Trường Sa”,…. đang được sự hưởng ứng tích cực của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào cả nước.

           Vì thế, mỗi ngày, mỗi người dân Việt, trong đó có cán bộ, giáo viên, công nhân viên, các bậc phụ huynh và học sinh thân yêu trường THPT Nguyễn Trân hãy luôn tự hào, hãy luôn cố gắng gìn giữ và bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng cách học tập tốt, lao động tốt, trở thành một người công dân tốt để cống hiến tài, đức của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh hơn. Hãy cùng chung tay ủng hộ sức người sức của, hướng triệu trái tim về biển đảo để lắng nghe: “Tổ Quốc gọi tên mình”.

II. Những thắng lợi vẻ vang của Quân chủng Hải quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Cách đây 65 năm, Hải quân nhân dân Việt Nam được thành lập (7-5-1955). Trải qua chặng đường hơn sáu thập kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đầy gian lao thử thách, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu; sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của các bộ, ngành trung ương và cấp ủy, chính quyền, nhân dân các địa phương cả nước; sự phối hợp, hiệp đồng của các đơn vị bạn, Hải quân nhân dân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và trưởng thành, có nhiều đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nhiều chiến công xuất sắc của Hải quân đã đi vào lịch sử như những biểu tượng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

1. Đánh đuổi tàu chiến Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc (năm 1964)

            Trước nguy cơ thất bại của Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và tăng cường phá hoại miền Bắc Việt Nam. Trung tuần tháng 4-1964, Mỹ lên kế hoạch ném bom 94 mục tiêu ở miền Bắc. Đêm ngày 31-7-1964, rạng sáng 1-8, tàu khu trục Ma Đốc của Mỹ đã tiến sâu vào vùng biển Việt Nam và gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân ta.

          Với quyết tâm trừng trị kẻ xâm phạm, ngày 2-8-1964, các tàu phóng lôi 333, 336, 339 đã xuất kích, anh dũng chiến đấu, buộc tàu Ma Đốc phải tháo chạy ra khỏi hải phận vùng biển miền Bắc.

          Đêm 8-4-1964, Chính quyền Mỹ đã dựng lên cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, vu cáo Hải quân nhân dân Việt Nam cố ý tiến công tàu chiến Mỹ ở vùng biển quốc tế. Ngày 5-8-1964, Mỹ dùng không quân tập kích ác liệt vào lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam từ Sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường đến Bãi Cháy, nhằm tiêu hao lượng tàu chiến đấu, quân cảng, kho tàng, nhiên liệu của ta. Trong trận đầu thử lửa, Hải quân nhân dân Việt Nam đã hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội phòng không quốc gia, công an vũ trang, dân quân tự vệ các địa phương, đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, bắn rơi tám máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, và bắt sống viên phi công Mỹ đầu tiên ở miền Bắc.

          Chiến thắng ngày 2 và 5-8-1964 là thắng lợi có ý nghĩa về chính trị, gây tiếng vang lớn trên thế giới của quân và dân Việt Nam, mãi mãi trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

2. Góp phần làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa

          Bị thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hủy tiềm năng kinh tế - quốc phòng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam.

          Hải quân nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt đã chiến đấu anh dũng 716 trận, bắn rơi 118 máy bay, bắn bị thương 102 chiếc, bắn chìm và bị thương 45 tàu thuyền của địch, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ.

3. Đánh bại chiến dịch phong tỏa thủy lôi trên sông, biển

          Với quyết tâm “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, Hải quân nhân dân Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, trực tiếp tháo gỡ, rà phá, làm mất hiệu lực 2400 quả thủy lôi, mở tuyến thông luồng trên hầu hết các cửa sông, cửa biển và hải cảng cho tàu thuyền của ta vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của địch.

4. Mở đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông chi viện cho miền Nam

          Để chi viện cho cách mạng miền Nam, cùng với Đoàn 559 mở đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn. Đoàn 759 (tiền thân của Đoàn 125) được thành lập để mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Trong suốt 14 năm vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam, Hải quân nhân dân Việt Nam đã chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, mưu trí vượt qua các tuyến bao vây, phong tỏa, đối phó với từng thủ đoạn của địch; sáng tạo nhiều phương thức hoạt động độc đáo, táo bạo; hình thành nhiều tuyến, mở hàng chục bến bãi thuộc các tỉnh ven biển miền Nam, đến tận cùng của đất nước và sát cửa ngõ Sài Gòn; vận chuyển kịp thời và đúng thời cơ hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, hàng chục ngàn lượt người đến những chiến trường khó khăn nhất, nơi mà con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn chưa vươn tới. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông mãi mãi trở thành con đường huyền thoại, là nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

5. Huấn luyện Đặc công nước, lập chiến công Cửa Việt – Đông Hà

          Để tiến công địch trên chiến trường sông biển miền Nam, đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, hải cảng, triệt phá các đường giao thông thủy bộ quan trọng, tạo thế bao vây quân Mỹ, ngụy, Hải quân nhân dân Việt Nam đã đảm nhận nhiệm vụ huấn luyện cán bộ, chiến sĩ đặc công nước chi viện cho các chiến trường và trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt – Đông Hà.

          Hải quân nhân dân Việt Nam đã huấn luyện, đào tạo, bổ sung cho các chiến trường miềN Nam được hơn 5.000 cán bộ, chiến sĩ đặc công. Trong 7 năm, chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt – Đông Hà đặc công Hải quân đã đánh 300 trận; đánh chìm, đánh hỏng 336 tàu xuồng chiến đấu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Góp phần cùng các lực lượng trên khắp chiến trường miền Nam đánh chìm, đánh hỏng 4.473 tàu thuyền, đánh sập hàng trăm cầu cống, vật chất phục vụ chiến tranh, cùng quân dân miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

6. Giải phóng Quần đảo Trường Sa, góp phần xứng đáng vào Đại thắng mùa Xuân 1975

          Tham gia chiến dịch mùa Xuân năm 1975, Hải quân nhân dân Việt Nam đã huy động đến mức cao nhất lực lượng tàu thuyền chiến đấu và vận tải để đưa gần 4.000 cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu, chở pháo, xe tăng, vũ khí các loại từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Dùng tàu chiến thả thủy lôi ở cửa biển Thuận An – Bán đảo Sơn Trà để chặn địch tháo chạy ra biển, góp phần tạo điều kiện để các đơn vị bộ binh giải phóng các thành phố, các tỉnh ven biển, tiếp quản căn cứ Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh.

          Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Lữ đoàn 125 và Đoàn Đặc công 126 Hải quân cùng bộ đội Quân khu V, với tinh thần thần tốc, táo bạo, bất ngờ đã giải phóng Quần đảo Trường Sa.

7. Bảo vệ chủ quyền vùng biển Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế

           Chỉ sau ba ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bè lũ Pol pot- Ieng Sary đã xua quân tiến công Đảo Phú Quốc, Thổ Chu và tàn sát, bắt hàng trăm dân thường Việt Nam. Đến năm 1978, cuộc xung đột biên giới trở thành cuộc chiến tranh thực sự.

          Trên hướng biển Tây Nam, Hải quân nhân dân Việt Nam đã cùng các quân binh chủng tiến hành các cuộc chiến đấu trên hướng chiến lược quan trọng của chiến dịch, cùng các lực lượng tiêu diệt 1.241 tên địch, bắt sống và gọi hàng 1.680 tên, giải phóng 12.300 dân, đánh chìm 27 tàu chiến, góp phần giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh, thành phố Cô Công, các vùng biển Campuchia, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

          Từ năm 1976 – 1988, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giúp bạn Lào tổ chức xây dựng lực lượng, đào tạo huấn luyện hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và thợ kỹ thuật, giúp bạn đóng mới một số tàu vận tải, bảo đảm kỹ thuật và viện trợ 14 tàu PBR, 33 tấn phụ tùng, sửa chữa 97 tàu, trang bị hàng chục máy công cụ, khôi phục Xưởng Chi-nai-mô, góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa Quân đội và nhân dân hai nước Việt – Lào.

8. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa trong thời kỳ mới

           Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, Hải quân nhân dân Việt Nam tập trung xây dựng Quân chủng vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, xây dựng Quân chủng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ Quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định của đất nước và khu vực, góp phần vào thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong thời kỳ CNH, HĐH. Luôn xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và nhân dân cả nước.

 

Quá trình ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam

          Chiến dịch Đông xuân năm 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, nhưng đất nước ta vẫn còn bị chia cắt làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, đi lên CNXH; miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng dân tộc. Bảo vệ chủ quyền, quản lý chặt chẽ một dải bờ biển miền Bắc dài hơn 800 km từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Từ cuối tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho Cục Tác chiến tổ chức một bộ phận chuyên theo dõi tình hình mọi mặt ở vùng biển, nghiên cứu, chuẩn bị đề án, xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển.

           Ngày 7-5-1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ biển (tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam). Việc ra đời của Cục Phòng thủ bờ bể đã mở đầu cho thời kỳ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của HQNDVN. Từ đó, ngày 7-5-1955 đã trở thành ngày thành lập HQND Việt Nam.

           Quá trình chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân chủng Hải quân đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVTND (13-12-1989), được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (1985), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), hai Huân chương Độc lập (hạng Nhất năm 2000, hạng Nhì năm 1965), ba Huân chương Quân công (Hạng nhất 1984 và hai hạng Nhì năm 1964 và 1983), Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1963); 64 lượt Đơn vị AHLLVTND, Anh hùng Lao động và 34 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động; 6.937 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động và Huân chương Bảo vệ Tổ quốc các hạng.

         

          Tóm lại, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng. Vì vậy Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo.

          Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản và các văn bản pháp luật về biển đảo của Nhà nước ta và luật biển quốc tế, những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với các quần đảo trên biển đông, những văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan. Tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo, giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển, đã góp phần làm cho nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ về vị trí chiến lược của biển, đảo từng bước được nâng cao.

          Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển, đảo nước ta trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong đó nhấn mạnh “Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương”.

          Vươn ra biển, làm giàu từ biển là định hướng đúng đắn phù hợp trong điều kiện hiện nay. Việt Nam là một quốc gia có biển, một nhân tố mà thế giới luôn xem như một yếu tố đặc lợi. Chúng ta cần tăng cường hơn nữa những khả năng quản lý, làm chủ vươn ra biển làm động lực thúc đẩy các vùng khác trong đất liền phát triển. Chúng ta phải có quyết tâm cao, tập trung huy động mọi tiềm năng và lợi thế của biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh trên biển để tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và ngư dân các địa phương yên tâm làm ăn trên các vùng biển đảo, nhất là ở vùng biển xa. Phải xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam và các lực lượng vững mạnh, theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Trịnh Minh Tẩn

TIN KHÁC:
Góc ảnh đẹp
Xem tất cả